“0% THƯƠNG TÍCH” GIỚI HẠN CỦA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Trong lý luận luật hình sự, một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi hội đủ các yếu tố cấu thành theo quy định pháp luật. Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đây là tội phạm có cấu thành vật chất, trong đó hậu quả không chỉ là yếu tố mô tả mà còn là điều kiện bắt buộc để xác định tội phạm đã hoàn thành.
Hình ảnh mang tính chất minh họa
Trong lý luận luật hình sự, một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi hội đủ các yếu tố cấu thành theo quy định pháp luật. Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đây là tội phạm có cấu thành vật chất, trong đó hậu quả không chỉ là yếu tố mô tả mà còn là điều kiện bắt buộc để xác định tội phạm đã hoàn thành.
Quy định của điều luật gắn chặt hành vi với hệ quả “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”. Điều đó có nghĩa, nếu không tồn tại tổn hại thực tế về sức khỏe, thì dấu hiệu hậu quả – yếu tố cấu thành cốt lõi – không được thỏa mãn. Khi đó, dù hành vi có tính nguy hiểm, cũng chưa đủ cơ sở pháp lý để xác định tội phạm ở giai đoạn hoàn thành.
Một nhầm lẫn thường gặp trong thực tiễn là đồng nhất tỷ lệ thương tích “0%” với “dưới 11%”. Cách hiểu này mang tính số học nhưng lại sai lệch về bản chất pháp lý. “Dưới 11%” là trường hợp có tồn tại thương tích nhưng ở mức độ nhẹ, còn “0%” là không có thương tích, tức không có bất kỳ tổn hại nào được ghi nhận. Sự khác biệt này không phải là khoảng cách về mức độ mà là ranh giới giữa “có” và “không” – giữa việc tồn tại hay không tồn tại dấu hiệu hậu quả. Khi giám định kết luận không có thương tích, đồng nghĩa với việc yếu tố cấu thành bắt buộc không hiện hữu, và việc suy diễn “0% cũng thuộc dưới 11%” là làm sai lệch logic của điều luật.
Luật hình sự không xử lý dựa trên giả định về hậu quả có thể xảy ra, mà dựa trên hậu quả đã xảy ra trong thực tế. Việc không phát sinh thương tích, dù do nguyên nhân khách quan như bị ngăn chặn hay tránh né, không thể được thay thế bằng suy đoán về nguy cơ. Nếu chấp nhận điều đó, ranh giới giữa ý định và tội phạm, giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả thực tế sẽ bị xóa nhòa, làm suy giảm tính xác định của pháp luật hình sự.
Tuy nhiên, không có hậu quả không đồng nghĩa với việc hành vi không có ý nghĩa pháp lý. Trong trường hợp người thực hiện có ý thức gây thương tích (mong muốn gây ra thương tích thực tế cho người bị hại), đã thực hiện hành vi một cách trực tiếp và có khả năng gây hậu quả nhưng hậu quả không xảy ra ngoài ý muốn của họ, thì hành vi đó có thể được xem xét dưới góc độ phạm tội chưa đạt theo quy định của Bộ luật Hình sự. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm nguyên tắc cấu thành tội phạm, vừa không bỏ lọt những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội.
Các tình tiết như sử dụng hung khí nguy hiểm hay có tính chất côn đồ, về bản chất, chỉ là yếu tố định khung tăng nặng và không thể thay thế cho dấu hiệu hậu quả. Chúng chỉ có ý nghĩa khi đã tồn tại tổn hại thực tế đối với sức khỏe. Nếu không có thương tích, việc viện dẫn các tình tiết này chỉ phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi, chứ chưa đủ để hình thành tội phạm hoàn thành.
Từ đó có thể khẳng định, khi kết luận giám định xác định không có thương tích và không có tổn hại sức khỏe, thì không đủ căn cứ để khởi tố tội cố ý gây thương tích ở giai đoạn hoàn thành. Việc xử lý, nếu có, chỉ có thể đặt trong khuôn khổ phạm tội chưa đạt khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định. Kiên định với nguyên tắc “hậu quả thực tế là ranh giới của tội phạm hoàn thành” không chỉ là yêu cầu lý luận mà còn là nền tảng bảo đảm tính chuẩn mực và thống nhất trong áp dụng pháp luật hình sự.
Chia sẻ kiến thức này
Giúp người thân và bạn bè hiểu rõ quyền lợi pháp lý của mình.
Tiêu chí phân định trách nhiệm hình sự giữa tội trộm cắp tài sản và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong trường hợp có hành vi phá hoại nhằm chiếm đoạt